Tạ Tự dường như đoán được bà muốn nói gì, vội lắc đầu, hoảng loạn.
Tổ mẫu vẫn mỉm cười:
“Mượn ơn báo đáp, là lỗi của chúng ta. Trong lòng ta cũng hổ thẹn lắm. Có đôi khi ta cũng muốn ra đi cho xong, nhưng lại không nỡ rời con bé. Nó chịu khổ quá nhiều, ta đã hứa sẽ ở bên cạnh nó. Nhưng trong phủ, người ta nói gì cũng có.”
“Chúng ta đã sai, mặt mũi nào mà dám vào phủ gặp lại nó chứ?”
“Không phải vậy, không phải…” Tạ Tự khàn giọng:
“Là cháu bất hiếu, lẽ ra phải sớm rước người vào phủ.”
“Tạ lang quân, ta không trách con đâu. Bá gia vốn nhân hậu, con cũng là bậc quân t.ử. Nhưng đời người mà, chẳng mấy ai tránh được chuyện ngược lòng trái ý.”
“Củ nhân sâm kia kéo dài mạng ta thêm bốn năm, nhưng cũng khiến ta và Lê nương phải ly biệt suốt bốn năm ấy mới được đoàn viên.”
Giọng tổ mẫu vẫn dịu dàng như cũ:
“Hôn sự của các con cũng vậy thôi, trái lòng người, không trọn duyên.”
“Đã từng là phu thê, nhưng tình mỏng duyên cạn, hữu duyên vô phận.” Tổ mẫu xoa đầu hắn, giọng nhẹ như gió:
“Biển đời mênh m.ô.n.g, hãy tiễn nhau một đoạn.”
Tạ Tự cúi đầu, vai run lên, nước mắt rơi xuống lặng lẽ.
Gió nổi lên.
Tổ mẫu ngẩng đầu nhìn khắp vườn lê, khẽ cười:
“Tiếc là… năm nay chẳng kịp ăn trái lê rồi.”
…
Lần cuối cùng ta gặp lại Tạ Tự là vào đầu thu, khi những quả lê chín mọng.
Sau khi lo liệu xong tang lễ cho tổ mẫu, ta và Hành ca nhi ngồi xe ra khỏi thành. Khi xe ngựa đi đến đình nghỉ chân ngoài thành, Hành ca nhi khẽ giật dây cương, nói:
“A tỷ, trong đình phía trước là Tạ đại nhân.”
Ta vén rèm bước xuống.
Trong đình, Tạ Tự đứng đó, tay chắp sau lưng, một thân trường bào lam sẫm thêu mây nổi hạc bay, thắt đai bạc nơi eo — dáng vẻ phong nhã như ngọc, tiêu sái như xưa.
Họa tiết mây nổi hạc bay trên áo hắn — chính tay ta từng thêu từng đường chỉ.
Trong đình có sẵn ấm trà nghi ngút khói, ta và hắn ngồi đối diện, Tạ Tự rót cho ta một chén, mỉm cười hỏi:
“Lần này nàng định đi đâu?”
Ta cúi đầu uống trà, hương lan thoảng đến dịu nhẹ:
“Thục Châu.”
Không khí trầm mặc trong chốc lát. Mãi sau, Tạ Tự mới chậm rãi nói:
“Thục Châu à… ruộng tốt mênh m.ô.n.g, đất trời ưu đãi — là vùng đất lành.”
Ta nhìn hắn, mỉm cười một cái.
“…Lê nương.” Tạ Tự cúi đầu, giọng trầm và chậm:
“Có những lúc ta nửa đêm giật mình tỉnh giấc, vừa hối hận, vừa đau lòng.”
“Ta vẫn hay nghĩ… giá như đêm tân hôn hôm đó, ta dịu dàng với nàng hơn một chút; giá như khi nàng cầu xin được theo ta đi Thục Châu, ta đã chịu mang nàng theo — thì sao nhỉ?”
“Với tính tình nhu hòa, tâm tư tinh tế như nàng… nếu ta buông bỏ định kiến, có lẽ đã chẳng đi đến kết cục hôm nay.”
“Chuyện đã qua rồi.” Ta cười nhạt.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại hatdaukhaai.com - https://hatdaukhaai.com/mot-goc-tuyet/chuong-10.html.]
“Bá phủ rất tốt, chàng cũng rất tốt — chỉ là, không hợp với ta.”
“Phải rồi.” Tạ Tự khẽ cười.
“Chim trời… vốn nên bay cao.”
Hắn đứng dậy, nâng chén trà thay rượu tiễn biệt, dịu dàng nói:
“Ngàn dặm xa xôi, mong nàng bảo trọng.”
Ta chạm chén cùng hắn:
“Trời xa đất rộng, mong chàng bảo trọng.”
Xe ngựa lại tiếp tục lăn bánh. Từ khung cửa sổ, ta ngoái nhìn — bóng Tạ Tự ngày càng nhỏ dần, cổng thành cũng mờ khỏi tầm mắt.
Ta ngẩng đầu — trời cao, nắng vàng, gió thu mát rượi.
Chim sẻ… đã bay về phương Nam.
Hậu Ký
Người dẫn chương trình: “Xin chào quý vị khán giả, chào mừng đến với chuyên mục Họa Thiên Niên. Hôm nay, rất vinh hạnh được gặp lại Giáo sư Dư từ Đại học Yến Kinh, cùng chúng ta một lần nữa bước vào thế giới hội họa của Thẩm Lê.”
Giáo sư Dư: “Đều là cố nhân cả, khỏi cần giới thiệu nhiều nữa.”
Người dẫn chương trình: “Giáo sư, nghe nói bức tranh Một gốc tuyết vừa được khai quật đã xác nhận là tác phẩm thật của Thẩm Lê?”
Chào mừng các bác đến với những bộ truyện hay của nhà Diệp Gia Gia ạ 殺
Nếu được, các bác cho Gia xin vài dòng review truyện khi đọc xong nhé, nhận xét của các bác là động lực để Gia cố gắng hơn, chau chuốt hơn trong lúc edit truyện ạ
Follow page Diệp Gia Gia trên Facebook để theo dõi thông tin cập nhật truyện mới nhé ạ
CẢM ƠN CÁC BÁC RẤT NHIỀU VÌ ĐÃ LUÔN YÊU THƯƠNG VÀ ỦNG HỘ GIA Ạ
Giáo sư Dư: “Đúng vậy. Dưới sự phối hợp của nhiều chuyên gia liên ngành, đối chiếu đầy đủ các chứng cứ — bức họa hoa lê này tuy không có đề tên hay ấn riêng, nhưng từ b.út pháp, bố cục, màu sắc mà xét, hoàn toàn khớp với đặc điểm tranh thời kỳ đầu của Thẩm Lê.”
Người dẫn chương trình: “Việc này gây chấn động cả mạng xã hội, không chỉ bởi sức ảnh hưởng ‘đỉnh lưu’ hiện tại của những tác phẩm của Thẩm Lê, mà còn vì bức Một gốc tuyết được tìm thấy trong lăng mộ của danh thần Tạ Thành Quân — một trong những trọng thần khai quốc đầu thời Hoàn triều.”
“Dù là chính sử hay dã sử, đều ghi chép rõ ràng: giữa ông và Thẩm Lê từng có một đoạn nhân duyên.”
Giáo sư Dư: “Phải nói rằng, bức tranh này được bảo tồn quá mức hoàn hảo — chắc chắn lúc sinh thời người ấy đã vô cùng quý trọng.”
Người dẫn chương trình: “Tạ Thành Quân một đời thăng trầm, làm quan đến chức Thủ phụ, duy chỉ có đường hôn nhân là gập ghềnh. Sau khi hòa ly với Thẩm Lê, tương truyền cả đời không tái giá.”
Giáo sư Dư: “Chính sử rất ít ghi chép về hôn sự của ông, chỉ có thể xác định: cả đời không có con, về sau nhận con nuôi từ chi khác trong họ.”
Người dẫn chương trình: “Tình cảm giữa hai người ấy, đến nay vẫn khiến hậu thế nhắc mãi không thôi. Nhiều người tiếc nuối, nếu cuộc hôn nhân đó trọn vẹn, ắt hẳn sẽ là một đoạn giai thoại cầm sắt hòa minh.”
Giáo sư Dư: “Nhưng như vậy thì đã không còn Thẩm Lê như chúng ta biết ngày nay.”
“Thẩm Lê có được thành tựu nghệ thuật ngày nay, không chỉ nhờ khí vận cao khiết trong kỹ pháp, ý cảnh thoát tục; mà còn bởi suốt một đời bà đi khắp đại giang nam bắc, rừng sâu núi thẳm, mây trôi nước chảy — mở ra lối đi mới cho dòng tranh thủy mặc điền viên sơn thủy.”
“Với thân phận nữ nhi, bà đã lấp đầy góc khuất bị lãng quên trong lịch sử, khắc họa một hình tượng nữ t.ử phong nhã tiêu d.a.o mà không mất đi sự điềm đạm rộng lượng.”
“Cuối đời bà quy y cửa Phật, trong tranh dần hiện thiền ý, thấu hiểu tạo hóa, như được thiên ý dẫn lối. Vì lẽ đó, hậu thế — từ nho sinh cho đến khuê nữ, đều tìm thấy chốn lý tưởng trong tranh của bà. Không ai là không yêu mến Thẩm Lê — không chỉ vì tranh, mà còn bởi khí chất và nhân cách của bà.”
Người dẫn chương trình: “Đúng thế. Nếu bà gắn bó cả đời với Tạ Thành Quân, thì chỉ là một phu nhân Thủ phụ vô danh trong sử sách, thế gian cũng chẳng còn Thẩm Lê được lưu danh hậu thế.”
“Có điều trong giới học thuật vẫn có ý kiến cho rằng — so với tranh sơn thủy, Thẩm Lê thật ra càng yêu thích vẽ lê. Nhưng về sau tranh liên quan đến lê lại rất ít xuất hiện. Lần này bức tranh được khai quật có thể xác thực điều đó không?”
Giáo sư Dư: “Thẩm Lê quả thực yêu thích vẽ lê, phần lớn xuất hiện trong giai đoạn đầu hôn nhân. Khi ấy kỹ pháp còn non, chất chứa u sầu, nhưng phối màu thanh nhã, ý cảnh đã có nét thần vận về sau. Chúng tôi suy đoán — lúc đó bà bị giam hãm trong nội trạch, tầm nhìn và tư tưởng vẫn còn hạn chế.”
“Về sau Thẩm Lê vẫn vẽ lê, nhưng trong vô số tranh điền viên sơn thủy, chúng dần không còn nổi bật. Về già, cháu gái bà đã tập hợp tất cả tranh vẽ lê, biên soạn thành tập tranh, chính bà đề tựa bằng thủ b.út.”
“Cả đời Thẩm Lê trải nghiệm phong phú, rực rỡ phi thường. Trong thời đại ấy bà sống đến tám mươi tuổi — tương truyền bức tranh cuối cùng lúc sinh thời của bà cũng là lê. Khi cháu gái phát hiện ra, hoa lê trắng muốt đã rụng đầy người bà. Bà cầm c.h.ặ.t b.út, an nhiên qua đời dưới tán lê.”
Người dẫn chương trình: “Tập tranh đó, Thẩm Lê đề câu gì vậy?”
Giáo sư mỉm cười: “Trù trướng đông lan nhất chu tuyết, nhân sinh khán đắc kỷ thanh minh.” (Sầu đượm bên hiên một gốc tuyết — nhân sinh, có mấy ai nhìn thấu rõ ràng?)
“Tập tranh ấy được đặt tên là ‘Một Gốc Tuyết’.”
Hết.