Phòng trước của địa cung diện tích không lớn, nhưng rộng hơn nhiều so với đường hầm mộ. Bốn bức tường hang đất được xây bằng gạch mộ. Vừa bước vào, đèn măng-xông đã tối đi, đèn pin cũng không soi được xa, hắc khí vẫn còn rất nặng, lại có mùi tanh mốc khó chịu của đất. Chúng tôi sợ bị ngạt, không dám đi quá nhanh.
Ngay trước mặt là bích họa ác thú trấn cửa, hai bên và trên trần vẽ hình hạc tiên mây lành. Bốn tượng gốm trong tiền thất, hai đôi đối diện nhau, ở tư thế nửa quỳ, trông đều là thị vệ. Ai nấy đều lông mày rậm mắt to, tóc dài chấm vai, mặc áo choàng dài cổ tròn thêu hoa, đi ủng cao, thắt đai lưng, tay cầm chùy dài. Áo choàng hoa văn và ủng đều được dán lá vàng.
Tôi thấy Trương Cự Oa định cạo lớp lá vàng đi. Tôi nói với cậu ta: “Lão Đạo Hai đã dặn rồi, lấy năm món báu vật ở hậu thất là đủ. Vật tùy táng trong mộ Liêu quá nhiều, nếu cậu cạo cả lá vàng thì ba ngày ba đêm cũng không xong việc.”
Trương Cự Oa mắt nhìn không đủ, gật đầu đồng ý: “Vâng, tôi nghe anh. Anh ơi, sao mấy ông Oa Gia này không cầm lang nha bổng (chùy răng sói), mà lại cầm thứ vừa giống chùy mà không phải chùy này? Có dùng được không ạ?”
Tôi nói: “Cậu biết gì đâu, thứ Oa Gia cầm không phải chùy đồng, nó gọi là kim qua (quả bầu vàng). Trước ngự giá không được phép có lưỡi sắc hay gai nhọn. Vì thế, cận vệ chỉ dùng kim qua. Hoàng đế thấy ai không vừa mắt, liền ra lệnh cho thị vệ lôi ra, kim qua kích đỉnh (đập kim qua lên đầu) trước điện, tức là ấn tội nhân xuống đất, vung cái chùy dài này đập vào đầu, giống như đập một quả dưa hấu vậy.”
Trương Cự Oa nói: “Vẫn là anh tôi giỏi, ngay cả cái này cũng biết.”
Tôn Nữ nói: “Em hình như nghe ông em nói, cái này gọi là cốt đóa…”
Thực tế, Tôn Nữ nói không sai, thứ võ sĩ mộ Liêu cầm là cốt đóa, ngày xưa là binh khí của người Khiết Đan, cũng là vật dùng trong nghi thức bảo vệ, không phải kim qua dùng để kích đỉnh. Lúc đó tôi cũng không biết nó là vật gì, chỉ nói đại. Tôi bảo Tôn Nữ cốt đóa và kim qua không khác gì nhau, chỉ là cách gọi khác nhau giữa trong và ngoài quan ải.
Vừa nói chuyện vừa bước vào trung thất. Đây là một hang động mộ thất có mái vòm trời tròn đất vuông (cùng lư đỉnh), diện tích bằng bốn căn nhà dân, vách cao ba bốn mét, đèn pin không thể soi đến tận cùng. Hai bên có hai tai phòng (nhĩ thất). Ở góc tường cũng có cột đá xây bằng gạch, trát sơn đỏ làm nền, rồi dùng màu đen trắng phác họa hoa văn. Xung quanh và trên đỉnh đều là những bức bích họa nguyên khổ, màu sắc tươi tắn, hình ảnh sống động.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại hatdaukhaai.com - https://hatdaukhaai.com/ma-thoi-den-mo-ma-o-tien-don/chuong-12-bich-hoa-an-thit-nguoi.html.]
Trên mái vòm mộ hình bầu trời, người ta dùng màu xanh đậm để vẽ bầu trời sâu thẳm, điểm xuyết những ngôi sao trắng. Phía Đông Nam có vòng mặt trời màu đỏ vàng, bên trong có kim ô ba chân cư ngụ. Phía Tây Nam là vầng trăng sáng, thỏ ngọc và cây quế đều ở trong cung trăng này. Bầu trời sao xa xăm, mặt trời mọc mặt trăng lặn, khiến người ta chợt cảm thấy thỏ chạy quạ bay (thời gian trôi nhanh), thấm thía sự chớp nhoáng của thời gian, sự ngắn ngủi của đời người. Tôi ngẩng đầu nhìn lên bức bích họa trên đỉnh cổ mộ đã hơn ngàn năm tuổi, tim đập thình thịch. Tôn Nữ và Trương Cự Oa cũng mắt tròn xoe.
Tôi nghĩ thầm: “Cô gái Khiết Đan này đúng là biết hưởng thụ, c.h.ế.t rồi còn muốn nhìn những bức bích họa tinh xảo thế này.” Vừa nghĩ, tôi vừa rọi đèn pin lên tường, đi men theo mép tường hai bước, phát hiện bích họa trong cổ mộ sắp xếp có trật tự, miêu tả cuộc sống lúc sinh thời của chủ mộ: cảnh tiệc tùng ca múa trong cung điện, nghi thức sám vu cúng thần bái trời, cảnh cưỡi ngựa săn b.ắ.n trong rừng núi. Thị vệ mặc áo giáp, đứng nghiêm trang. Nô bộc khúm núm dâng rượu đưa thịt. Thậm chí còn có thị tòng dắt những con tuấn mã trang bị chỉnh tề, giữ lễ hết sức cung kính, như thể luôn sẵn sàng chờ chủ mộ xuất hành. Trong tai phòng (nhĩ thất) bên cạnh, chất đầy những chiếc chén mã não, bát thủy tinh trong suốt, bát đĩa sứ trắng, sứ xanh, ấm vàng hộp bạc. Yên ngựa và bàn đạp ngựa được khảm vàng nạm ngọc. Dù có một lớp bùn đất phủ lên, nhưng chỉ cần phủi đi lớp bụi, những thứ vàng vàng, bạc trắng, mã não đỏ kia vẫn sáng rực chói lòa, không thể so sánh với những món đồ tầm thường trong các ngôi mộ cũ. Mặc dù đã cách ngàn năm, nhưng nhìn những bích họa và đồ tùy táng này, có thể lập tức hình dung ra cuộc sống xa hoa của chủ mộ khi còn sống, cơm ngon áo đẹp, nô bộc đầy nhà, hô một tiếng trăm người ứng.
Trương Cự Oa nói: “So với vị chủ mộ này, tôi đúng là sống phí. Tại sao người ta lại có thể sống cuộc đời như vậy?”
Tôi nói: “Sư phụ cậu nói đúng một câu, mạng không tốt thì đừng trách ai, chỉ trách trên mộ tổ nhà mình không mọc cây ngải đó thôi.”
Yukimiko - (Tuyết Mỹ Tử)
Tôn Nữ nói: “Toàn là thứ sinh không mang đến, c.h.ế.t không mang theo, cần nhiều đến thế làm gì? Mãng Cổ lúc sống có bao nhiêu nô bộc, thị vệ, tuấn mã, ngọc ngà châu báu, chẳng phải cũng c.h.ế.t khi còn trẻ đó sao?”
Tôi hỏi cô ấy: “Sao cô biết nữ thi Khiết Đan c.h.ế.t khi còn trẻ?”
Tôn Nữ nói: “Cái này có gì lạ đâu, Thần Nữ Sám Man Mãng Cổ, lúc c.h.ế.t chỉ khoảng hai mươi mấy tuổi. Nói chôn ở đâu thì không ai rõ, nhưng nhắc đến Mãng Cổ thì rất nhiều người già theo đạo Sám Man đều biết. Tương truyền, lúc sống Mãng Cổ có thể thông linh với quỷ thần, nhìn rõ xa ngàn dặm, hơn nữa dung mạo nghiêng nước nghiêng thành, hiếm có trên đời.”
Tôi nói: “Dù nữ thi Khiết Đan lúc sống có đẹp đến đâu, chúng ta cũng không thể thấy người sống được nữa rồi. Đáng tiếc là năm đó không có máy ảnh, không lưu lại được hình ảnh. Tuy nhiên… bích họa mộ Liêu chú trọng tả thực, có lẽ hình ảnh trong bích họa là chân dung thật của người xưa.”
Tôi muốn nhìn thấy chân dung thật của Công chúa Đại Liêu, Thần Nữ Sám Man, trong các bích họa cổ mộ. Nhưng trong tiền thất và trung thất nhiều bích họa như vậy, lại không hề có hình ảnh của chủ mộ. Nhưng tôi biết, nữ thi Khiết Đan đã ngủ vùi ngàn năm không nằm ở hậu thất, cô ấy chính là ở trong mộ thất âm u này, và luôn theo dõi mọi hành động của ba người chúng tôi.
--------------------------------------------------